Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Lục Bình Quê Tôi

Cái chân chất đượm tình của người Nam bộ mãi vẹn nguyên, như hoa lục bình nở trên sông, mặc mùa cạn hay mùa lũ lớn.


Đã bao giờ bạn nhìn thấy lục bình trôi trên sông? Ở bất cứ nơi đâu, dù là sông Tiền, sông Hậu bao la trù phú; sông Hương cổ kính và thơ mộng bên cạnh cố đô, hay sông Ngàn phố, Vàm Cỏ... ta đều có thể bắt gặp những cụm lục bình xanh ngắt. 

Lục bình nở hoa, những cánh mỏng manh, tim tím nhẹ nhàng đầy lãng mạn. Hoa không thơm, không rực rỡ, và chẳng bao giờ được nâng niu mang cắm trong bình để điểm tô cho nhịp sống thường ngày một chút sắc hương như hoa sen, hoa súng - nhưng lại có duyên, cái duyên quê bình dị và quyến rũ. Sắc tím dịu dàng ấy chỉ có thể làm nên vương vấn khi được giữ nguyên trên cái lênh đênh của sông nước, từng bông đơn lẻ kết lại bên nhau để tím thủy chung loang đầy mặt sông, gieo vào lòng người bàng bạc niềm thương nhớ...

Chẳng thế mà ngày nhỏ, có lần tôi nằng nặc đòi chị Hai khều cho bằng được một bông lục bình, mang vào nhà cắm. Nhưng cái tôi có được trên tay chỉ là những cánh hoa tím mong manh có phần dập nát, và cứ dần héo rũ bứt ra khỏi bộ rễ chìm trong nước. Chị nhìn mặt tôi thất vọng mà cười buồn: "Có những vẻ đẹp em chỉ có thể chiêm ngưỡng mà không bao giờ có thể sở hữu cho riêng mình". Câu nói ấy đến giờ tôi vẫn nhớ, và mới hiểu hết ý nghĩa của nó khi bắt đầu có những vấp váp trên mỗi bước tôi đi...

Lục bình trôi theo con nước, cứ từng cụm, từng cụm. Có những khi sóng đánh mạnh khiến chúng tan ra thành từng nhánh, trôi lẻ loi một mình trong âm thầm lặng lẽ. Nhưng dù là đơn lẻ hay thành đám đi chăng nữa thì lục bình vẫn là lục bình - chúng vẫn có một đời sống và một sức chịu đựng, sản sinh mạnh mẽ vô tận. Phía trên mặt nước là những chiếc lá dày, xanh ngắt mở lòng ra đón ánh dương bừng sáng hoặc đẫm chút sương đêm. Phía dưới, chìm trong mặt nước là một bộ rễ dài ngậm chút hương phù sa mà sống. Nước lớn, lục bình trôi đi - trôi đi mãi cho đến một ngày nào đó mỏi gót lãng du mới dạt vào bờ sông hay một bờ ruộng hoang. Và ở đó chúng sinh sôi, nảy nở để đợi một ngày con nước mới trở về bắt gặp và réo gọi, chúng lại ra đi...

Bởi gắn liền với con nước, "như chim liền cánh, như cây liền cành" mà vùng sông nước Nam Bộ nghiễm nhiên trở thành xứ sở của lục bình. Hoa nở trên sông hầu như suốt cả bốn mùa, nhưng rộ lên rõ nhất là vào cuối đông cho đến hết cả xuân ấm... Chúng luôn hiện hữu trong tôi như một hình ảnh đặc trưng nhất khi nghĩ về những kiếp người trên sóng nước phương Nam bươn trải với cuộc đời.

"Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi
Thương những đời như lục bình trôi"

Tôi theo câu hát ấy của Vũ Đức Sao Biển tìm về với sông nước phương Nam để cảm nhận nhịp sống lênh đênh "như lục bình trôi" nơi những con thuyền tất tả xuôi ngược trên sông. Chòng chành con thuyền nhỏ giữa dòng - nhưng từ đó mở ra cả một không gian sống, vừa là nơi buôn bán, vừa là nơi sinh hoạt của mỗi gia đình. Từng chiếc ghe chất đầy các loại trái cây mang hương vị đặc trưng sông nước sẽ theo những nhánh sông Cửu Long xuôi về các chợ nổi như Cái Bè (Tiền Giang), Cái Răng (Cần Thơ), tấp nập người bán kẻ mua... Rồi sau những không khí rộn ràng của tiếng nói cười, mua bán như thế, khi mỗi phiên chợ khép lại luôn là những khoảng lặng, đối mặt với nỗi lo cơm áo gạo tiền, hôm nay lo chưa hết đã lo tràn sang cả ngày mai... Thương ánh  mắt mẹ già con thơ trong một sớm lũ về chống con sào cầm cự giữa mênh mông sóng nước đục ngầu, gắng qua một mùa đói nhói lòng..


Kiếp nghèo thân phận nổi nênh, nhưng cái chân chất đượm tình của người Nam bộ thì mãi còn vẹn nguyên - như hoa lục bình nở trên sông, mặc mùa cạn hay mùa lũ lớn - vẫn cứ thấy một sắc tím mong manh trên thảm lá mướt xanh lấp lánh dưới ánh mặt trời. Bạn hãy thử dừng chân ghé lại bất kỳ ghe thuyền nào trên sông Tiền, sông Hậu mà xem, sẽ luôn gặp những nụ cười mến khách, dễ gần như gặp người hàng xóm thân thuộc nhiều năm. Họ nghèo đấy, tất tả bươn mình cơ cực, lo toan đấy nhưng ít khi bắt gặp một nét bi quan trên gương mặt.

Đôi lúc tôi cứ nghĩ: Nếu được chọn giữa một kiếp sống thanh thản, tự do bầu bạn với sông nước, giăng lưới buông câu bình lặng với một cuộc sống ồn ào, chen đua (thậm chí là giành giật, giẫm đạp lên nhau từng phút, từng giờ nơi thị thành hối hả kia), có lẽ họ sẽ vẫn chọn kiếp sống trên sông. Dẫu nổi nênh, mặc gió giông mưa nắng, mặc vất vả lo toan, họ vẫn thủy chung cùng dòng nước với tình người chân chất ấm nồng  - như lục bình hoài tím mênh mang...
                                                                                                                 Đình Khoa

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Tháng Sáu Ngày Hẹn Trong Mưa Kỷ Niệm


Bỗng nghe sấm rền tháng sáu Dòng sông vẫy gọi nhau về…” Tháng sáu trở về chấp chới ngoài hiên nhà bằng những cơn mưa đột ngột, tháng sáu lúc nào cũng dịu dàng và đầy yêu thương dù rằng nhiều mưa lạnh, dù câu ca của Phú Quang cứ vang lên trong phòng trống, chẳng bao giờ em muốn mình như con chim sẻ nhỏ bay mất khỏi vùng trời bình yên của mình: Anh! Tháng sáu về mang theo cả những ngày đầu tiên của chúng mình. Mình gặp nhau, đó là duyên may nhưng yêu nhau, đó là sựa lựa chọn của trái tim mà không bao giờ hối tiếc. Yêu - được yêu, giận hờn - yêu thương, xa xôi - gần gũi, buồn - vui, hạnh phúc - đau khổ, ngọt - đắng… tất cả đều là những “gia vị tình yêu, khi ta đã cùng nắm tay nhau đi qua những gập ghềnh, đi qua những ngày tháng xa cách thì thời gian – không gian – khoảng cách chẳng còn cản trở mình vẫn yêu thương, quan tâm, chăm sóc và nghĩ về nhau. Chiều nay, trên con đường quen tiếng chim vẫn lao xao trên vòm lá, dòng người vẫn tấp nập vội vã, nắng vẫn nhảy nhót trên vai người, ngã tư kia vẫn im lìm đợi những dấu chân qua, chẳng biết có đợi dấu chân của một người đứng đợi và của một người tìm đến vòng tay ấm áp không nhỉ? Em đứng ở đầu con đường, những kỷ niệm, dáng hình yêu thương vẫn hiện lên trước mắt không mờ nhạt vì thời gian… thế rồi mưa, mưa trôi qua kẽ tay. Em tự nhủ mình, vẫn luôn giữ mãi những yêu thương, không trôi tuột đi khi chúng mình vẫn trân trọng từng giây phút có nhau, ghét nhau thì dễ, để yêu thương mới là khó…

Tháng sáu về, em lại được về với tràn ngập cảm xúc trong mùa mưa, mùa yêu vĩnh viễn trong tim. Chỉ là cái cớ thôi để nhớ, nhưng tháng sáu thực sự rất ấm áp và dễ ru lòng người tìm về với nỗi nhớ và chứa chan kỷ niệm. Có em và anh trong mùa mưa, mùa của những cơn bão xa cùng những chuyến đi trên những cánh đồng thơm mùi lúa, đến những lũy tre đầu làng, con kênh trước ngõ cùng đàn cò bay phía sau nhà. Có những xao lòng của người nông dân theo nắng mưa của những cung đường mang trong mình trăn trở về những ánh mắt trẻ thơ chờ đón những ánh sáng ngọn đèn phía xa xa ngoài đồng. Tháng sáu có cả những cơn mưa của đầu mùa cô đơn lặng lẽ rơi, của câu vọng cổ vang lên từ người dân làng quê em, của những cơn mưa buồn không giấu hết được vào đáy mắt. Em muốn trở lại cánh đồng trong tháng sáu, tìm về những kỷ niệm nhỏ dại cùng Ba trên chiếc xuồng thả lưới bắt cá vào chiều tháng 6, tìm về trên những con đường làng quanh co rợp bóng mát để với tay lên tưởng chạm đến một màu xanh bất tận, về với một lời hẹn hò … Tháng sáu dần về, hẹn hò nhau một ngày tháng sáu anh nhé…
                                                                    Thanh Trúc

Thứ Ba, 26 tháng 5, 2015

Sài Gòn Vào Mưa

Gần 30 năm sống trên miền Bắc, nên tôi lạ lùng khi trải nghiệm mùa mưa ở miền Nam. Cái đột ngột, bất ngờ, cái vội vàng, ráo riết, cái “đến hẹn lại lên” như một sự tuân thủ kỷ luật trung thành đến khó chịu. Đó là những cảm nhận dễ thấy của mùa mưa ở Sài Gòn.

Người Sài Gòn đã quen với việc ứng biến trước mùa mưa. Vậy nên, thấy âm u đó, vẫn ra đường bình thường. Bởi rất nhiều khi, trạng thái âm u còn kéo dài cho tới khi họ ra ngoài và trở về xong công việc. Lại cũng có khi, mây đen vần vũ một hồi lại bị gió lớn, đẩy sang khu vực khác, và chỗ tưởng không mưa lại hóa có mưa và ngược lại. Rồi nữa, mưa nhanh trút và cũng nhanh tạnh. Cái gì cũng “nhanh nhanh” hệt như nhịp đi gấp gáp của những luồng xe trên phố. Những dòng xe cộ lúc nào cũng miệt mài không nghỉ, chạy tràn qua những ngã năm, ngã bảy rồi tấp vào một hẻm nhỏ nào đó để... tiếp tục rẽ, lại rẽ. Sài Gòn là chốn tứ phương tụ hội. Chẳng ai bận tâm việc cái xe trước mặt kia mang biển số tỉnh nào khi tất cả hòa trong sự đa dạng, phong phú đến bất ngờ. Cũng chẳng ai bận tâm xem người này, người kia nói giọng Bắc hay Trung vì ở xứ này, tiếng nói khác nhau đã là điều tất yếu. Mưa cũng đơn giản và nhẹ nhõm như hơi thở ngày thường của tự nhiên. Đám mây tích tụ nước cứ trôi, tới đâu nặng quá thì trút xuống. Rồi lại bay, lại tích tụ hơi nước, lại trút, lại bay. Nhịp sống phía dưới mưa hiếm khi xáo trộn. 
Không dễ thấy cái thảng thốt của người Sài Gòn trong mùa mưa trước những giọt nước ầm ào trút xuống. Chỉ một thoáng thôi, có khi đứng ở ngay cạnh hiên mà mưa nhanh tới mức, chạy biến vào nhà ngay vẫn ướt. Cái thất thường của tự nhiên lâu ngày trở thành cái bình thường trong ứng xử của con người. Không vội vàng, không sốt ruột. Thấy mưa to thì dừng lại, tấp đại vào một quán cà phê. Chờ nhấm nháp hết, mà có khi chưa hết ly cà phê, trời đã lại quang đãng, ra đường đi tiếp. Không hoảng hốt khi cơn mưa vần vũ trên đầu. Sài Gòn mưa nhiều chứ hiếm khi có bão. 

Tôi cứ hay lẩn thẩn nghĩ về những mùa mưa ở miền Bắc khi ngắm cảnh sắc không gian dưới làn mưa lất phất Sài Gòn. Mưa ở đây đủ khiến người ta nhớ, mà không dễ kịp làm cho họ buồn, thậm chí day dứt tới thê thiết như những cơn mưa dầm thối đất thối cát. Đứng trước một cơn giông gió, nỗi bất an của người miền Bắc, miền Trung bao giờ cũng lớn. Bởi đâu chỉ là nước ngập, là đường tắc, là bất tiện trong sinh hoạt, còn là bão, là lũ, là khánh kiệt hoa màu, là cuốn trôi nhà cửa, mạng người. Những cơn mưa lúc ấy không còn chỉ là chuyện của trời nữa. Nó đã là chuyện rất hệ trọng của con người. 


Sự thực, mối giao cảm và gắn kết giữa con người và thiên nhiên thật chặt. Chỉ  cần quan sát cách người ta ứng xử với thiên nhiên, sẽ phần nào hiểu được chính xác sự “hiền” - “dữ” của tiết trời xứ ấy. Tôi cứ nghĩ, nếu có nhà làm phim nào quay ánh mắt của con người hai xứ Nam, Bắc nhìn trời mưa, chỉ cần góc máy thật chuẩn, asẽ thấy rất rõ cảm thức của con người ở hai vùng đất ấy trước thiên nhiên rành rẽ tới mức nào.
                                                         Đỗ Dương

Những Bài Hát Về Quê Hương

                                                                                                    Nhiều Tác Giả

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Ao Làng Tôi

Từ lâu, văn học dân gian đã nói tới hai từ ao làng như một hình ảnh không thể thiếu trong mỗi làng quê Việt Nam nói chung, và quê tôi – làng Phương Khê nói riêng, ao làng là nơi lưu giữ những kỉ niệm, kí ức tuổi thơ sâu đậm của mỗi con người, ao làng là nơi gắn bó máu thịt với những ai xa quê, để mỗi khi lòng buồn man mác mà nhớ về quê hương, ở nơi xa ấy họ thường nhớ về hình ảnh quen thuộc, thân thương: ao làng, giếng làng, cây đa, cây gạo cổ thụ của làng!



Ao làng đã lưu giữ trong tôi những kỉ niệm, kí ức vui có, buồn có. Nhưng cho dù vui hay buồn thì ao làng đã gắn bó với tôi cả một quãng đời tuổi ấu thơ.


Những trưa hè, trốn nhà để cùng chúng bạn ra ao tắm táp. Mẹ vác roi đi tìm, ra bờ ao thấy quần áo của con mình vứt đống ở trên bờ. Mẹ đứng trên bờ, rồi nói vọng xuống ao trong tiếng tì tùm, ủng oẳng của những bàn chân đang quẫy đạp trên nước mà rằng :
- Nhà có phúc con biết lội, nhà có tội con biết trèo!
 Sao con không ngủ trưa mà trốn ra đây tắm táp, con không sợ chết đuối à?
Nhà tôi ở gần ao, gần sông Hồng, thủa chăn trâu cắt cỏ, tôi ra sức tập bơi mà vẫn chẳng biết bơi, nhà ở gần sông nước mà tôi lại không biết bơi thì thật là buồn! Cha tôi chặt đổ cả một thân cây chuối hột sau nhà to bằng cột đình, rồi thả xuống ao, nó nổi lên cho tôi bám vào thân cây để tập bơi, rồi tôi nghe lời chúng bạn bắt cả chuồn chuồn cho cắn vào rốn của mình mà rút cuộc tôi vẫn chẳng biết bơi. Nhiều lúc nghĩ vẩn nghĩ vơ, hay do mình là mạng Thổ ( đất ), Thổ ném xuống nước thì chỉ có mà chìm nghỉm, chẳng thấy tăm hơi. Theo các thầy Tử vi thường hay nói về số của tôi thì : Tôi dễ mắc nạn sông nước, mỗi khi có việc đi đâu tôi đều hết sức tránh những nơi sông sâu nước chảy xiết.

Ao làng như một định danh về vị trí cư trú của gia đình tôi, tôi đi đâu xa, ai hỏi về nơi sinh, tôi thường giải thích với họ rằng : Nhà tôi ở xóm Ao, thôn Phương Khê. Một cái tên nôm na, dân dã nhưng đã ăn sâu vào trí nhớ của mỗi người dân quê tôi. Ngay cả khi cúng khấn những người quá cố trong ngày giỗ, ngày Tết, trong bài khấn bao giờ ông nội tôi, cha tôi cũng nhắc tên địa danh xóm Ao như để định danh nơi về của tổ tiên !


Ao làng tôi còn có cả một kho chuyện dân gian kì bí. Mẹ tôi thường hay kể cho tôi nghe nhiều câu chuyện, trong đó câu chuyện về đôi vịt vàng thường hay xuất hiện ở Ao làm tôi nhớ nhất. Mẹ tôi bảo có nhiều người nhìn thấy, và đã từng bắt đôi vịt ấy về, rồi nhốt chúng vào chiếc cối đá mà người ta thường hay giã gạo, rồi đậy chiếc mâm gỗ lên trên. Nhưng rồi, đôi vịt vàng ấy biến mất lúc nào mà chủ nhà không hay. Không biết đôi vịt vàng ấy bây giờ ở đâu, đã có ai bắt được chúng chưa, và chúng có là tài sản của riêng ai không? Đến giờ mải mưu sinh nơi đất khách quê người, câu chuyện ấy chỉ còn đọng lại trong kí ức tuổi thơ của tôi.


Ao làng tôi không rộng lắm, quanh bờ ao là những rặng tre, rặng ổi của người dân sống xung quanh, soi bóng xuống mặt ao làm cho khung cảnh thôn quê bớt đi sự tẻ nhạt, nó giống như những nét chấm phá, những mảng màu trên một bức tranh nơi thôn dã.
Ao làng tôi xưa kia có ba cầu ao lên xuống được xây bằng ghạch nghiêng có nhiều bậc, ở đó tôi thấy dáng mẹ tôi rửa rau, giặt giũ...Còn tôi đã bao lần lên xuống cầu ao ấy, khi thì ngồi thả cần câu cá, khi thì ghánh nước tưới rau, ...Tất cả đều chìm vào trong kí ức tuổi thơ của tôi.

Bây giờ xa quê, tôi đã từng đi tắm ở bao nhiêu con sông, bao nhiêu bãi biển trên đất nước mình như bãi biển Trà Cổ đẹp bậc nhất ở vùng Đông Bắc của Việt Nam, bãi biển Cửa Lò sầm uất ở miền Trung, hay bãi biển mũi Nai, mũi Né ở miền Nam  nước ta, điểm cuối cùng của tổ quốc thân yêu, lòng tôi chợt nhớ về ao làng như lời bài ca dao xưa vang vọng lại :
                        Ta về ta tắm ao ta

                           Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn.


Nhưng ôi thôi,  ao làng giờ không còn nữa, người ta đã cho lấp ao đi để xây nhà văn hóa thôn. Những hình ảnh thân thương như mặt ao trưa hè hàng tre rủ bóng, con trâu miệng nhai cỏ dưới lũy tre soi bóng mặt ao giờ không còn nữa. Những chiếc cầu giờ đã tan biến mất. Đứng trước khu ao xưa, tôi lại nhớ những vần thơ của cụ Tú Xương đã viết rằng :                                   

“ Sông kia rày đã nên đồng

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò ”

Sự đổi thay của làng quê Việt Nam nói chung và làng tôi nói riêng đang dần làm tan biến đi nhiều nét đẹp văn hóa làng, trong đó hình ảnh ao làng một thời gắn bó với tôi và người dân quê tôi giờ chỉ còn trong kí ức tuổi thơ tôi một thời quá vãng!

                                                                                              Hoàng Anh 

Tôi Viết Về Mẹ

Tôi viết về Mẹ, không phải vì Mẹ tôi là một người tài ba, tôi viết về Mẹ không phải vì mẹ tôi là một giáo sư, một bác học hay một bác sỹ có tiếng tăm trong xã hội này, tôi viết về Mẹ không phải vì mẹ là một thiếu nữ xinh đẹp hay một công nương rạng ngời trước đám đông…. Nhưng…..Tôi viết về Mẹ vì chỉ đơn giản Mẹ là phần quan trọng trong Trái tim và cuộc sống của tôi mà thôi, tôi không tự hào vì Mẹ là một người học cao hiểu rộng, tôi cũng không tự hào vì mẹ là một người có chức có quyền trong xã hội này. Nhưng tôi tự hào vì Mẹ tôi có trái tim, có đôi vai thép, tự hào vì Mẹ là người nghèo nhưng không bao chúng tôi phải đói.





Me Tôi !

           Đơn giản lắm, sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo miền bắc Việt Nam, Ông ngoại tôi có 5 người con, Mẹ tôi là chị cả trong số 5 các em. Cuộc sống vốn đã khó khăn với thời thế nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ, chưa đủ cái ăn cái mặc chứ nói chi đến việc học hành tử tế như bao người,  Mẹ tôi học hết lớp 2 phải dừng lại để lo làm thuê làm mướn, chăn trâu cắt cỏ phụ giúp ông bà tôi nuôi đàn em thơ dại, ngày cuồn quật với ruộng nương, tối đến phụ bà Ngoại tôi thuê thùa may vá quần áo cho các em. Năm tháng trôi qua Mẹ cũng đã đến cái tuổi yên bề gia thất, tưởng chừng như cuộc sống khó khăn dừng lại khi mẹ về làm vợ Bố tôi, nhưng với Bà đây mới chỉ là giai đoạn chuyển tiếp cho cái khổ còn nhiều hơn nữa,
Cuộc chiến tranh tàn khốc đã phá hủy làng mạc cùng quê hương, cuộc sống mưu sinh nơi vùng quê nghèo ấy vốn đã vất vả, khốn khó giờ đây phải hứng chịu những điều tệ hại do chính quyền nhà nước lúc bấy giờ thế rồi Ông nội cùng với bố tôi gồng gành cùng gia đình đi vào vùng kinh tế mới miền Nam để kiếm cái tự do, kiếm kế mưu sinh cho cuộc sống, lúc ấy mẹ tôi sinh được 3 anh trai và 3 chị gái, ôm con thơ trên tay mẹ phải chịu bao vất vả lắm thay, với bà lúc ấy chỉ đơn giàn nghĩ rằng thôi thì cuộc sống đã thế mình phải chấp nhận mong sao cuộc sống có thể tốt đẹp hơn. Tưởng chừng khi vào cùng đất mới sẽ thấy được ánh bình minh hạnh phúc, nào ngờ mỗi nơi, mỗi miền cái khổ nó khác nhau và vẩn cứ tiếp tục thay nhau đè nên đôi vai nặng gánh của Bà. Vào vùng kinh tế mới Mẹ tôi sinh được thêm 4 người con, trong đó có tôi, tôi là đứa con thứ 9 là đứa kế út trong gia đình, sống vùng kinh tế mới không lo phải thiếu đói, không lo phải thiếu lương thực cho con cái gia đình hàng ngày, nhưng với Mẹ, bà luôn canh cánh trong lòng rằng đủ ăn, đủ lo thôi thì chưa hẳn đã là đủ, cái nghèo vẫn cứ dai dẳng theo gia đình tôi đến tận lúc bấy giờ.
Một lần nữa với quyết định táo bạo của Mẹ mặc dù bố tôi không đồng thuận lắm, nhưng với bà đây là cơ hôi cuối cùng để cho con cái có tương lai, bà tiếp tục sẵn sàng bỏ quê hương thứ 2 với 18 năm lập nghiệp gồng gánh con cái gia đình cùng chồng để đi tìm vùng đất mới, với hoa màu, có cây tươi tốt, vùng đất đỏ bazan "chưa mưa đã thấm chưa nắng đã bụi" này. Đúng là một sự quyết định thật đúng đắn, Mẹ đã tìm cho chúng tôi được vùng đất hứa, vùng đất hoa màu quanh năm, vùng đất chứa bao nhiêu sinh khí cho cuộc sống tương lai, tưởng chừng cuộc sống bắt đầu nở hoa kết trái nơi đây, tưởng chừng với Mẹ sẽ dần dần xa với những ngày khổ cực xưa. Nhưng rồi cuộc sống đâu ai như mơ, đâu ai ngờ tới, sống tại vùng đất mới này được 4 năm thì bố tôi mắc một căn bệnh hiểm nghèo và ông đã ra đi vĩnh viễn rời xa Mẹ, rời xa chúng tôi, Mẹ tôi thững thờ, Mẹ tôi như muốn buông xuôi tất cả, giờ đây với bà chẳng còn gì để mà luyến tiếc, chẳng còn gì trong cái xã hội đầy ngột ngạt và đau khổ này, tiếc thương cho chồng, tiếc thương cho nhưng ngày đau khổ đã gần qua để chuẩn bị cho mùa sinh hoa kết quả sắp được hái. Đau khổ nó cứ mãi dai dẳng với bà, ngày ngày nó vẫn cứ như cái bóng theo Mẹ đến suốt cuộc đời, giờ đây với bà vừa là người Mẹ vừa người phụ nữ kiêm thêm chức vụ người Cha người đàn ông trụ cột, 10 đứa con thơ ngây, chưa biết cuộc sống sẽ đi về đâu về chốn nào, Mẹ tôi khóc cho cuộc sống sao quá đỗi gian truân, Thượng đế sao bắt con người ta qua nặng nhọc thế này, phải chăng ông trời đang trêu đùa người phụ nữ này, hay phải chẳng trên vai người phụ nữ này là mạ săt thép, hay phải chẳng trên lung người Mẹ này người ta sẽ thấy được sức chịu đựng bền bỉ.

Mẹ Tôi !
           Cái khổ với Mẹ nó như là người bạn đồng hành, như là một vật thể không thể nào tách rời, cuộc sống nó cứ lặng trôi mỗi ngày, nhẹ nhàng bước qua cuộc đời thật êm đềm. Bởi vậy cha ông chúng ta thường có câu “Thượng Đế đóng cửa này, thì Ngài cũng sẽ mở một cánh khác rộng hơn, thênh thang hơn cho chúng ta bước” Mẹ lo cho tất cả anh em chúng tôi từng miềng cơm manh áo, nhà chúng tôi nghèo lắm nhưng với anh em chúng tôi Mẹ thường nói, “Mẹ chẳng thể cho con cá, nhưng Mẹ cố gắng cho chúng con cái cần câu”, các anh các chị tôi đều yên bề gia thất có con cái. Nhưng với bà như vậy cũng chưa là xong cái gọi là lo lắng, giờ đây con cái cháu chắt đứa nào khó khan, đứa nào vất vả khổ cực Mẹ lại lo lắng, Mẹ lại chạy đàng này kiếm đàng kia để cho anh chị em chúng tôi. Thương Mẹ lắm.

Mẹ Tôi !
          Tôi viết về Mẹ là một người không được học cao! Và rồi tôi viết về Mẹ là một người chỉ biết viết được tên của mình mà thôi, Tôi viết về Mẹ là một người phụ nữ tần tảo, lo cho chồng, lo cho con.
Và rồi tôi cũng tự hào về Mẹ vì bà là một người chỉ biết sống cho con, sống cho gia đình, tôi tự hào vì Mẹ một nắng hai sương tìm kiếm củ khoai củ mì nuôi chúng tôi ăn học, tôi tự hào vì tôi được làm con Mẹ.
Giờ đây ngồi nơi xa con viết về Mẹ, viết về những nhọc nhằn mà Mẹ đã phải gánh chịu. Viết về những lo toan hàng ngày mà Mẹ đang phải suy nghĩ đắn đo, tôi thấy thương Mẹ nhiều hơn, tôi thấy lòng nghẹn lại để viết lên những dòng này.
Tạo hóa rất sáng suốt và tài tình, đã nặn nên hình tượng người Mẹ, và chính Ngài cũng đã thổi vào con người của bà một luồng sinh khí: Đức Hy sinh, sức chịu đựng, tấm lòng thương yêu.
Tôi viết về Mẹ là một người bình thường trong xã hội này, nhưng với tôi là cả một bầu trời rộng lớn.
Con Yêu Mẹ!
“Ngày của Mẹ xin chúc tất cả các bà Mẹ trên thế giới này luôn vui tươi, hạnh phúc và luôn yêu đời”
                                                                                                                 Thanh Tran